Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Ca_Nha_Thuong_Nhau__Xuan_Mai.mp3

    Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của Trường THCS Phúc Thọ

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Văn bản chuyên môn >

    Hướng dẫn giảng dạy các bộ môn cấp THCS năm học 2013-2014

    1
    UBND HUYỆN LÂM HÀ
    PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
    _______________________________
    Số: 171/CV-GD
    V/v: Hướng dẫn giảng dạy các bộ môn
    cấp THCS năm học 2013 - 2014
    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
    ______________________________________________________
    Lâm Hà, ngày 28 tháng 8 năm 2013
    Kính gửi: - Các trường THCS trực thuộc;
    - Trường TH&THCS R’Teing.
    Thực hiện sự chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo Lâm Đồng về việc dạy học
    các bộ môn cấp THCS năm học 2013 – 2014;
    Phòng Giáo dục và Đào tạo Lâm Hà Hướng dẫn các trường giảng dạy các bộ
    môn cấp THCS năm học 2013 – 2014 với một số nội dung sau:
    I. NHIỆM VỤ CHUNG
    1. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động và các phong trào thi đua
    của ngành. Chú trọng tạo chuyển biến mới trong phong trào “Học tập và làm theo tấm
    gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự
    học và sáng tạo” và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích
    cực”.
    2. Thực hiện đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và giáo dục, đổi mới kiểm
    tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của học sinh, dạy học phân hóa trên cơ sở
    chuẩn kiến thức, kỹ năng của Chương trình giáo dục phổ thông cấp THCS; tạo sự hứng
    thú, yêu thích học tập bộ môn, tạo ra sự chuyển biến tích cực, rõ nét về chất lượng và
    hiệu quả giảng dạy.
    3. Tiếp tục tinh giản nội dung dạy học theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục & Đào
    tạo; xây dựng và triển khai dạy học các chủ đề tích hợp, lồng ghép; tăng cường các hoạt
    động nhằm giúp học sinh vận dụng kiến thức liên môn vào giải quyết các vấn đề thực
    tiễn.
    4. Chú ý phân loại đối tượng học sinh, mức độ giảng dạy trong từng bài, từng
    chương, chú trọng việc dạy học thực hành cho học sinh. Giáo viên chú trọng việc tự làm
    và sử dụng đồ dùng dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ cho việc giảng dạy.
    Tăng cường rèn luyện kỹ năng cho học sinh, liên hệ thực tế phù hợp với nội dung bài
    dạy.
    5. Thực hiện các giải pháp, chuyên đề bộ môn, nâng cao hiệu quả ôn tập, bồi
    dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém. Chú trọng đổi mới sinh hoạt chuyên
    môn nhằm nâng cao vai trò và phát huy hiệu quả hoạt động của tổ/nhóm chuyên môn
    trong nhà trường.
    6. Tích cực tham gia hoạt động chuyên môn, các hội thi, các đợt tập huấn
    chuyên môn nghiệp vụ do Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo tổ chức.
    II. NHIỆM VỤ CỤ THỂ
    I. MÔN CÔNG NGHỆ
    2
    1. Thực hiện chương trình:
    a. Thời lượng: Cả năm học tiếp tục thực hiện 37 tuần (học kỳ I có 19 tuần, học
    ký II có 18 tuần).
    b. Chương trình: Các trường tiến hành rà soát, điều chỉnh phân phối chương
    trình phù hợp với điều kiện thực tế từng trường, đáp ứng được nhu cầu nhận thức của
    đối tượng học sinh dựa trên phân phối chương trình tham khảo của Phòng Giáo dục và
    Đào tạo, tiếp tục thực hiện theo hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học môn Công
    nghệ cấp THCS của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành kèm theo Công văn số
    5842/BGDĐT-VP ngày 01 tháng 9 năm 2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Lãnh đạo
    nhà trường phải phê duyệt phân phối chương trình trước khi cho giáo viên triển khai
    thực hiện. Tuyệt đối không cắt bỏ các tiết dạy thực hành. Trong quá trình giảng dạy
    giáo viên cần tăng cường hình thành kỹ năng thực hành cho học sinh thông qua các tiết
    thực hành. Tích cực dạy học lồng ghép, tích hợp các nội dung bảo vệ môi trường, sử
    dụng và tiết kiệm năng lượng, giáo dục kỹ năng sống...
    2. Những vấn đề cần lưu ý trong quá trình giảng dạy:
    a. Thực hiện đúng, khung chương trình và các yêu cầu về điều chỉnh nội dung
    học tập do Bộ Giáo dục, Sở Giáo dục và Phòng GD&ĐT qui định; không dồn bỏ tiết
    (đặc biệt với các lớp cuối cấp). Thực hiện tích hợp giáo dục môi trường trong môn
    Công nghệ.
    b. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên bám sát vào chuẩn kiến thức - kỹ năng
    của bộ môn để thực hiện.
    c. Tuỳ theo điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của từng trường giáo viên
    cần khai thác thật tốt để dạy đủ các bài thực hành. Trong quá trình giảng dạy các bài
    thực hành phải cho học sinh hiểu được qui trình công nghệ, biết vận dụng vào sản xuất
    và trong cuộc sống. Đặc biệt phải chú ý đến điều kiện an toàn cho giáo viên và học
    sinh. Đặc biệt trong năm học 2013 - 2014 đối với môn Công nghệ, giáo viên tổ chức
    dạy học tìm hiểu kinh doanh trong trường học ở môn Công nghệ lớp 6 (theo nội dung
    đã được hướng dẫn tại Hội nghị tập huấn chuyên môn hè 2013 tại trường THCS Đam
    Pao).
    d. Đổi mới kiểm tra đánh giá: Thực hiện đúng qui định của Qui chế đánh giá,
    xếp loại học sinh THCS; tiến hành đủ số lần kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ;
    kiểm tra học kỳ cả lý thuyết và thực hành.
    - Giáo viên đánh giá sát, đúng trình độ học sinh với thái độ khách quan, công
    minh và hướng dẫn học sinh tự biết đánh giá kết quả học tập của mình.
    - Trong quá trình kiểm tra, cần kết hợp một cách hợp lý hình thức tự luận với
    hình thức trắc nghiệm khách quan để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh.
    - Đề kiểm tra bám sát vào chuẩn kiến thức - kỹ năng (không được vượt chuẩn
    kiến thức - kỹ năng của bộ môn).
    e. Thiết bị dạy học:
    - Môn Công nghệ - KTCN cần nhiều thiết bị, giáo viên cần sử dụng triệt để và
    chủ động khai thác các thiết bị đã có của trường để giảng dạy có hiệu quả, trước khi
    giảng dạy cần chuẩn bị chu đáo, làm thử để nắm chắc các thao tác, qui trình công
    nghệ.
    3
    - Tích cực tham gia tự làm các thiết bị dạy học: Như các mô hình vật thật; sơ đồ
    mạch điện…
    - Sưu tầm các thiết bị, các chi tiết máy để dạy động cơ đốt trong…
    g. Về phương pháp giảng dạy:
    - Dạy học theo đúng đặc trưng bộ môn, đặc biệt chú ý thực hiện đổi mới
    phương pháp dạy học theo hướng sau:
    - Dạy học thể hiện mối quan hệ tích cực giữa giáo viên và học sinh, giữa học
    sinh với học sinh.
    - Dạy học chú trọng đến việc rèn kỹ năng, năng lực tự học, tự nghiên cứu; tạo
    niềm vui, hứng thú và thái độ tự tin trong học tập cho học sinh.
    - Dạy học chú trọng đến việc sử dụng có hiệu quả phương tiện, thiết bị dạy học
    được trang bị hoặc do các giáo viên tự làm; đặc biệt chú ý đến việc ứng dụng công
    nghệ thông tin trong quá trình giảng dạy.
    - Dạy học chú trọng đến việc da dạng hoá nội dung, vận dụng linh hoạt kiến
    thức của các bộ môn có liên quan vào từng trường hợp cụ thể để phân tích, chứng
    minh làm cho bài giảng có độ sâu, gây hứng thú học tập cho học sinh.
    + Trong giáo án phải thể hiện rõ những đơn vị kiến thức cơ bản, hoạt động của
    giáo viên và học sinh, hoặc những nội dung mà giáo viên cần truyền đạt và học sinh
    cần lĩnh hội. Đặc biệt chú ý phát huy tính tích cực, sáng tạo, chủ động và khả năng tự
    học của học sinh bằng hệ thống câu hỏi chặt chẽ, lôgic.
    + Giáo viên phải biết vận dụng thực tế vào bài giảng, tạo cho học sinh có niềm
    say mê bộ môn, làm cho các em tự tìm tòi, khám phá kiến thức trên cơ sở hướng dẫn
    của giáo viên. Giáo viên chuẩn bị mô hình vật thật, trên cơ sở đó phân tích các chi tiết,
    phân tích các mối quan hệ lắp ghép...để tìm ra nguyên lý hoạt động hay bản chất của
    vấn đề, của hiện tượng./-
    II. MÔN ĐỊA LÝ.
    1. Thực hiện phân phối chương trình:
    Căn cứ tinh thần Công văn số 5842/BGDĐT-VP ngày 01 tháng 9 năm 2011 của
    Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học đối
    với môn Địa lí theo hướng tinh giản, trên cơ sở thực tế về điều kiện dạy học tại địa
    phương, Phòng Giáo dục và Đào tạo đã có văn bản hướng dẫn việc điều chỉnh phân
    phối chương trình dạy học bộ môn Địa lí THCS (trên cơ sở phân phối chương trình đã
    ban hành từ năm học 2008 – 2009 và nội dung điều chỉnh phân phối chương trình
    môn Địa lí áp dụng từ năm học 2009 – 2010). Đảm bảo khung thời gian 37 tuần thực
    học, trong đó học kì I: 19 tuần, học kì II: 18 tuần.
    2. Về dạy học Địa lí địa phương:
    Thực hiện theo Công văn số 5977/BGDĐT-GDTrH ngày 07/7/2008 của Bộ Giáo
    dục và Đào tạo; trong quá trình thực hiện cần lưu ý:
    Nội dung giáo dục địa phương phải góp phần thực hiện mục tiêu môn học, gắn
    lý luận với thực tiễn. Khi giảng dạy, ngoài việc liên hệ với thực tiễn hoạt động kinh tế
    - xã hội, văn hóa, lịch sử của địa phương ngay trong bài dạy, còn phải thực hiện nội
    dung giáo dục địa phương ở các tiết học (bài, môđun, chủ đề ...) đã quy định trong
    4
    phân phối chương trình hoặc đưa nội dung giáo dục địa phương thành một phần của
    tiết học theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
    Giáo viên cần chủ động sưu tầm tư liệu và sử dụng phương pháp tích hợp để
    lồng ghép các nội dung liên hệ, giáo dục về địa phương sao cho phù hợp với đặc thù
    nội dung môn học.
    3. Nội dung dạy học tích hợp:
    Tiếp tục thực hiện tích hợp giáo dục đạo đức, học tập và làm theo tấm gương đạo
    đức Hồ Chí Minh; giáo dục pháp luật; giáo dục phòng chống tham nhũng; tuyên truyền,
    giáo dục về chủ quyền biển, đảo; sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; bảo vệ môi
    trường; đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên; giáo dục về tài nguyên và môi trường
    biển, hải đảo; ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai; hướng
    dẫn tổ chức tham quan, học tập thông qua di sản, tại các cơ sở sản xuất, … theo hướng
    dẫn của Bộ GD&ĐT.
    Nguyên tắc tích hợp nội dung học tập vào bài học một cách tự nhiên, phù hợp
    với nội dung bài học, phù hợp với đặc điểm, điều kiện cụ thể của đơn vị. Việc tích hợp
    làm cho bài học sinh động, gắn với thực tế hơn và không làm quá tải bài học.
    Phương pháp dạy của các bài tích hợp phải góp phần phát huy tính tích cực, tự
    giác, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập.
    Kiểm tra đánh giá kỹ năng sống vào bài học được lồng ghép trong kiểm tra
    đánh giá của môn học, cần chú ý kiểm tra năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết
    các vấn đề về kỹ năng sống trong học tập và thực tiễn cuộc sống.
    4. Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá:
    Đẩy mạnh việc vận dụng dạy học giải quyết vấn đề, các phương pháp thực hành
    trong môn học; bảo đảm cân đối giữa việc truyền thụ kiến thức, rèn luyện kỹ năng và
    định hướng thái độ, hành vi cho học sinh; tăng cường liên hệ thực tế, tích cực ứng dụng
    công nghệ thông tin phù hợp với nội dung bài học.
    Tổ chức dạy học phân hoá theo năng lực của học sinh dựa theo chuẩn kiến thức,
    kỹ năng của Chương trình giáo dục phổ thông cấp THCS. Giáo viên chủ động thiết kế
    bài giảng linh hoạt, khoa học, sắp xếp hợp lý các hoạt động của giáo viên và học sinh;
    phối hợp tốt giữa làm việc cá nhân và theo nhóm; chú trọng công tác phụ đạo học sinh
    yếu.
    Giáo viên tạo điều kiện, hướng dẫn học sinh rèn luyện kỹ năng tự học, tự nghiên
    cứu sách giáo khoa và tài liệu tham khảo, bồi dưỡng năng lực độc lập suy nghĩ; xây
    dựng hệ thống câu hỏi hợp lý, phù hợp với các đối tượng giúp học sinh vận dụng sáng
    tạo kiến thức đã học, khắc phục việc ghi nhớ máy móc, không nắm vững bản chất.
    Trong quá trình thực hiện các hoạt động dạy học, giáo dục nêu trên, giáo viên cần
    coi trọng việc quan sát và hướng dẫn học sinh tự quan sát các hoạt động và kết quả hoạt
    động học tập, rèn luyện của các em; nhận xét định tính và định lượng các hoạt động về
    kết quả hoạt động, qua đó đề xuất hoặc triển khai kịp thời các hướng dẫn, góp ý, điều
    chỉnh nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh.
    Các hình thức kiểm tra, đánh giá đều hướng tới phát triển năng lực của học sinh;
    coi trọng đánh giá để giúp đỡ học sinh về phương pháp học tập, động viên sự cố gắng,
    hứng thú học tập của các em trong quá trình dạy học. Việc kiểm tra, đánh giá không chỉ
    5
    là việc xem học sinh học được cái gì mà quan trọng hơn là biết học sinh học như thế
    nào, có biết vận dụng không; kết hợp kết quả đánh giá trong quá trình giáo dục và đánh
    giá tổng kết cuối kì, cuối năm học.
    Trong các bài kiểm tra, giáo viên chủ động kết hợp một cách hợp lý, phù hợp
    giữa hình thức trắc nghiệm tự luận với trắc nghiệm khách quan, giữa kiểm tra lý thuyết
    và kiểm tra thực hành. Cần tiếp tục nâng cao yêu cầu vận dụng kiến thức vào thực tiễn,
    tăng cường ra các câu hỏi mở, gắn với thời sự quê hương đất nước để học sinh được
    bày tỏ chính kiến của mình về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội. Thực hiện nghiêm
    túc việc xây dựng ma trận đề kiểm tra cho mỗi chương và cả chương trình môn học;
    tăng cường ra câu hỏi kiểm tra để bổ sung cho thư viện câu hỏi của trường. Khi chấm
    bài kiểm tra phải có phần nhận xét, động viên sự cố gắng tiến bộ của học sinh. Việc cho
    điểm có thể kết hợp giữa đánh giá kết quả bài làm với theo dõi sự cố gắng, tiến bộ của
    học sinh. Chú ý hướng dẫn học sinh đánh giá lẫn nhau và biết tự đánh giá năng lực của
    mình.
    5. Tăng cường nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn của giáo viên:
    Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng giáo viên về chuyên môn và
    nghiệp vụ theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên theo các hướng dẫn của Bộ GD&ĐT. Tăng
    cường các hình thức bồi dưỡng giáo viên và hỗ trợ hoạt động dạy học qua mạng
    internet.
    Tập trung đổi mới sinh hoạt chuyên môn của tổ/nhóm chuyên môn thông qua
    hoạt động nghiên cứu bài học. Tăng cường hoạt động dự giờ thăm lớp, quan tâm bồi
    dưỡng giáo viên mới; bồi dưỡng giáo viên kiến thức, kỹ năng về đổi mới phương pháp
    dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá; tăng cường tổ chức hội thảo từ cấp tổ, trường, cụm
    trường, huyện.
    Tiếp tục bồi dưỡng giáo viên năng lực nghiên cứu khoa học, sáng kiến cải tiến và
    hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học; tăng cường vai trò của giáo viên chủ nhiệm
    lớp trong việc quản lý, phối hợp giáo dục toàn diện cho học sinh.
    Đổi mới việc sinh hoạt tổ chuyên môn, tăng cường theo hướng trao đổi, thảo
    luận về các chủ đề, nội dung giảng dạy, rút kinh nghiệm, tháo gỡ khó khăn vướng mắc
    khi giảng dạy.
    Thực hiện một số chuyên đề nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng bộ môn.
    Chuyên đề nên xuất phát từ thực tế giảng dạy, thiết thực, phù hợp và có tính ứng dụng
    cao. Tổ chuyên môn cần tổ chức rút kinh nghiệm kịp thời sau từng bài dạy, sau mỗi
    lần thực hiện chuyên đề.
    Tổ chuyên môn cần có sự thảo luận, thống nhất về nội dung bài dạy; xây dựng
    đề kiểm tra - đánh giá học sinh; đổi mới trong dạy và học.
    Tiếp tục tổ chức dự giờ, trao đổi, rút kinh nghiệm sau mỗi bài, nhất là những
    bài có dung lượng kiến thức nhiều. Chú ý thảo luận cụ thể, chi tiết từng mục, từng bài,
    theo yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học. Các giáo viên lần đầu tiên dạy lớp 9 và
    giáo viên mới vào nghề cần tích cực dự giờ và tranh thủ sự góp ý chia sẻ kinh nghiệm
    của đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường.
    Xây dựng biện pháp nâng cao chất lượng học tập bộ môn của học sinh ngay sau
    khi nhà trường tổ chức khảo sát chất lượng đầu năm học.
    6
    Ngay từ đầu năm học 2013 – 2014, tổ chuyên môn cần xây dựng kế hoạch phụ
    đạo, bồi dưỡng đối tượng học sinh yếu - kém, động viên khích lệ để các em có ý thức,
    động cơ học tập đúng đắn. Chú ý phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi ở các lớp 6, 7, 8,
    9.
    Đối với các trường vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc cần xây dựng kế hoạch
    phụ đạo sớm, chọn lựa nội dung ôn tập phù hợp đối tượng, nhất là ở các lớp đầu cấp và
    cuối cấp.
    Xây dựng “Nguồn học liệu mở” (Thư viện) bộ môn phục vụ công tác giảng dạy,
    nghiên cứu; chia sẻ các tài liệu tham khảo, bài giảng, kinh nghiệm cho đồng nghiệp.
    Các tổ chuyên môn cần nghiên cứu đề xuất với Lãnh đạo nhà trường hỗ trợ các điều
    kiện thiết yếu và phù hợp với điều kiện của nhà trường nhằm phục vụ tốt cho hoạt
    động dạy và học bộ môn.
    6. Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi:
    Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí, coi đây là nhiệm vụ
    chung của mọi loại hình trường lớp.
    * Nội dung, chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí THCS (theo nội
    dung đã thống nhất tại hội nghị tập huấn giáo viên dạy học sinh giỏi ngày 8,9/11/2012)
    - Về kiến thức: kiến thức bộ môn toàn cấp học tính đến thời điểm thi.
    - Về cấu trúc đề thi học sinh giỏi môn Địa lí năm học 2013 – 2014 như đã thống
    nhất tại hội nghị.
    * Lưu ý:
    - Cần chú ý về kĩ năng địa lí (biểu đồ, bảng số liệu, át lát...).
    - Nguồn tài liệu bộ môn Địa lí: Giáo viên có thể truy cập tại Website
    http://www.gdtrh.lamdong.edu.vn.
    III. MÔN GDCD.
    1.Về thực hiện chương trình:
    Điều chỉnh nội dung dạy học theo hướng tinh giản các nội dung bộ Giáo dục đã
    ban hành theo công văn số 5842/BGDĐT-VP ngày 01 tháng 9 năm 2011, dành thời
    gian cho các nội dung khác, tạo thêm điều kiện đổi mới phương pháp dạy học theo yêu
    cầu của chương trình, phù hợp với chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục
    phổ thông
    Năm học 2013-2014, các trường vẫn cơ bản tiếp tục thực hiện phân phối
    chương trình do Phòng GD&ĐT ban hành năm học 2012-2013. Qua thực tế giảng
    dạy ở các trường, Phòng GD&ĐT cho phép các tổ, nhóm chuyên môn các trường có
    thể điều chỉnh một cách hợp lý thời lượng của từng bài, miễn là không làm thay đổi
    tổng số tiết dạy của chương, phần và mỗi học kỳ, cũng như của toàn năm học. Các
    tổ, nhóm chuyên môn trao đổi, bàn bạc, thảo luận để thống nhất chương trình giảng
    dạy riêng nếu như thấy phù hợp với đối tượng HS. Phân phối chương trình nếu có sự
    thay đổi so với phân phối chương trình của Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo phải có
    sự phê duyệt của Hiệu trưởng và báo cáo về Phòng Giáo dục và Đào tạo.
    Chương trình môn Giáo dục công dân (GDCD) có 35 tiết được thực hiện trong
    37 tuần của năm học, do đó sẽ có 35 tuần học một tiết GDCD/ tuần và 2 tuần dự trữ có
    7
    thể dạy bù hoặc bố trí cho phù hợp với tình hình thực tế từng trường. Thực hiện
    chương trình theo thứ tự các bài đã có trong phân phối chương trình nhưng phải căn cứ
    chuẩn kiến thức, kỹ năng.
    Những bài bố trí từ hai tiết trở lên, không quy định cụ thể nội dung cho từng
    tiết, giáo viên căn cứ vào tình hình, khả năng tiếp thu của học sinh để phân bố cho hợp
    lý, nhưng phải cân đối về nội dung giữa các tiết. Có thể dạy phần lớn nội dung kiến
    thức vào các tiết đầu, tiết cuối dạy phần còn lại và luyện tập, thực hành vận dụng kiến
    thức đã học vào cuộc sống thực tiễn. Việc tách tiết phải tuân theo đầy đủ tiến trình của
    giáo án.
    ( Xác định rõ mục tiêu kiến thức, kỹ năng cho từng tiết)
    Các tiết thực hành, ngoại khoá thực hiện như sau:
    PhòngGiáo dục và Đào tạo uỷ nhiệm cho các trường lựa chọn nội dung các tiết
    thực hành, ngoại khoá dựa trên các vấn đề sau:
    - Vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống.
    - Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
    - Tăng cường giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống.
    - Những vấn đề của địa phương tương ứng với các bài đã học.
    - Những vấn đề nổi cộm của cuộc sống cần giáo dục cho học sinh như: trật tự
    an toàn giao thông, giáo dục bảo vệ môi trường, phòng chống HIV/AIDS, ma tuý, tệ
    nạn xã hội …
    - Thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
    - Nêu gương người tốt, việc tốt, những học sinh chăm ngoan vượt khó học giỏi.
    - Tình hình chính trị xã hội của địa phương…
    Nội dung tiết thực hành, ngoại khoá có thể thay đổi theo từng năm.
    Hình thức thể hiện; tổ chức trao đổi, thảo luận, liên hệ thực tế nhà trường, có
    thể đi tham quan, tổ chức thi tìm hiểu, có thể mời cán bộ, chuyên gia nói chuyện, trao
    đổi…
    Các tiết ôn tập tập học kỳ:
    Giáo viên căn cứ đặc điểm tình hình thực tế, cùng với tổ bộ môn định ra nội
    dung ôn tập cho phù hợp với trình độ của học sinh nhưng phải bám sát chuẩn kiến
    thức, kỹ năng.
    2.Về việc lồng ghép, tích hợp giáo dục các nội dung học tập và làm theo
    tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên, phổ
    biến giáo dục pháp luật và bảo vệ môi trường sống, giáo dục kỹ năng sống...
    Đây là một nội dung hết sức quan trọng trong trong việc giảng dạy bộ môn.
    Nguyên tắc tích hợp giáo dục là lồng ghép các nội dung vào bài học một cách tự nhiên,
    phù hợp nội dung bài học, phù hợp vào đặc điểm, điều kiện thực tế. Việc tích hợp giáo
    dục làm cho bài học sinh động, gắn với thực tế hơn mà không làm quá tải.
    Phương pháp tích hợp dạy học phải phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác,
    sáng tạo của học sinh.
    8
    Kiểm tra đánh giá nội dung tích hợp có thể lồng ghép vào kiểm tra đánh giá của
    môn học, cần chú ý đánh giá năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết những vấn đề
    thực tiễn cuộc sống của học sinh.
    Về tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh:
    Dạy học tăng cường những nội dung PBGDPL nhưng không phải chuyên về
    luật, lu mờ đặc trưng của môn GDCD, gắn pháp luật với dạy GDCD.
    Tăng cường phổ biến GDPL nhưng phải gắn liền, không ra ngoài chuẩn kiến
    thức, kỹ năng.
    Tăng cường PBGDPL phải đám bảo các nguyên lý giáo dục, chú ý tăng cường
    đổi mới phương pháp, chú ý phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy tính cực
    của học sinh, giáo dục thái độ, tình cảm, tư tưởng cho học sinh.
    Về kiểm tra đánh giá tăng cường PBGDPL: Khi đưa nội dung phổ biến giáo
    dục pháp luật vào trong dạy học phải kiểm tra đánh giá, nội dung kiểm tra phải thống
    nhất với nội dung đã đưa vào trong bộ môn.
    Kiểm tra nội dung PBGDPL có thể tiến hành kiểm tra viết , kiểm tra thông qua
    đánh giá nhận xét khi HS làm bài tập viết báo cáo, bài thu hoạch.
    Trong quá trình dạy học GV có thể sử dụng các phương pháp kĩ thuật dạy học
    khác nhau nhưng đảm bảo đạt chuẩn kiến thức kĩ năng, đạt mục tiêu bài học.
    Việc tham khảo các tài liệu kể cả SGK , tài liệu tập huấn, tài liệu tham khảo
    khác là cần thiết nhưng đảm bảo đạt chuẩn.
    3.Phương pháp và kỹ thuật dạy học:
    a. Đẩy mạnh hơn nữa việc đổi mới phương pháp và kỹ thuật dạy học nhằm phát
    huy khả năng tư duy, sáng tạo, độc lập, tự chủ của người học. Ứng dụng công nghệ
    thông tin vào dạy học; tăng cường đầu tư số lượng và chất lượng của giáo án điện tử,
    khai thác thông tin trên internet để góp phần nâng cao hiệu quả của giờ dạy.
    b. Kết hợp sáng tạo, hiệu quả các phương pháp dạy học truyền thống (thuyết
    trình, giảng giải, kể chuyện, vấn đáp…) Với các Phương pháp và kỹ thuật dạy học
    hiện đại
    (thảo luận nhóm, giải quyết tình huống, dự án, động não…nhằm hình thành tính
    tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh.
    4. Về kiểm tra, đánh giá:
    Từ trước tới nay, việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn GDCD của học
    sinh được thực hiện chủ yếu qua kiểm tra miệng, kiểm tra viết. Tuy nhiên trước yêu
    cầu nâng cao chất lượng dạy và học, đồng thời đảm bảo tính toàn diện khi kiểm tra
    đánh giá và đặc thù bộ môn, Bộ GDĐT đã ban hành thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT
    ngày 12/12/2012 về ban hành quy chế đánh giá xếp loại học sinh THCS và THPT bằng
    cho điểm kết quả thực hiện các yêu cầu về chuẩn kiến thức kĩ năng và thái độ đối với
    từng chủ đề và đánh giá bằng nhận xét sự tiến bộ về thái độ, hành vi trong việc rèn
    luyện đạo đức, lối sống của học sinh theo nội dung môn GDCD. GV dạy môn GDCD
    căn cứ vào nội dung trên để nhận xét sự tiến bộ về thái độ hành vi trong việc rèn luyện
    đạo đức, lối sống của học sinh lớp mình phụ trách, theo nội dung bộ môn GDCD quy
    định trong chương trình giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ GDĐT ban hành trong
    mỗi học kì, cả năm học…GV dạy môn GDCD là người đóng vai trò quyết định trong
    9
    việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập bộ môn của học sinh. Do mẫu học bạ hiện hành
    chưa dành đủ chỗ ghi kết quả nhận xét về môn GDCD nên GV môn GDCD chuyển kết
    quả nhận xét sau mỗi học kì cho giáo viên chủ nhiệm tiếp nhận và ghi nội dung nhận
    xét về môn GDCD cùng với nhận xét của giáo viên chủ nhiệm vào cuối năm học ở
    phần nhận xét của giáo viên chủ nhiệm trong học bạ. Khi có mẫu học bạ mới, phù hợp
    với các yêu cầu của Thông tư 58, GV dạy môn GDCD phải thực hiện đúng theo tinh
    thần của Thông tư 58 và công văn số 2642/BGDĐT.
    Vận dụng thành thạo phương pháp và hình thức kiểm tra đánh giá: thực
    hiện Hướng dẫn biên soạn đề kiểm tra ban hành theo công văn số 8773/BGDĐTGDTrH
    ngày 30-12-2010 của Bộ GD&ĐT. Cần kết hợp một cách hợp lý hình thức tự
    luận với hình thức trắc nghiệm khách quan dựa trên chuẩn kiến thức kĩ năng; không ra
    đề kiểm tra những nội dung đã được tinh giảm; biên soạn đề kiểm tra theo hướng đảm
    bảo mức độ nhận biết, tăng cường mức độ thông hiểu và vân dụng. Với các bài kiểm
    tra 1 tiết, cuối học kì, cuối năm, thi tuyển sinh lớp 10 THPT dành tối thiểu 50% cho
    các nội dung thông hiểu, vận dụng sáng tạo. Biên soạn đề kiểm tra theo ma trận đã
    được tập huấn trong đợt bồi dưỡng chuyên môn hè 2012. Bài kiểm tra không chỉ nhằm
    đánh giá kết quả học tập chung của lớp học mà còn phải đánh giá trình độ của mỗi HS
    trong lớp. Vì vậy, trong đề kiểm tra cần có câu hỏi để phân hoá trình độ HS.
    Về biên soạn đề kiểm tra, đánh giá theo ma trận:
    Năm học 2013-2014, các tiết kiểm tra 45 phút trở lên nhất thiết phải thiết lập
    ma trận đề (theo mẫu ma trận đã thống nhất tại Hội nghị tập huấn do Phòng Giáo dục
    tổ chức năm học 2012 – 2013).
    Giáo án tiết kiểm tra phải đầy đủ các bước: Mục tiêu (KT-KN-TĐ); Hình thức
    kiểm tra; Xây dựng ma trận; Biên soạn đề; Đáp án và thang điểm
    Về việc lựa chọn hình thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan hoặc tự luận, hoặc
    kết hợp cả TNKQ và tự luận tùy thuộc vào điều kiện của từng trường và từng đối
    tượng học sinh…nhưng khuyến khích kết hợp giữa cả TNKQ và tự luận. Thống nhất
    theo tinh thần tập huấn với tỉ lệ 30% trắc nghiệm, 70 % tự luận, cấp độ nhận thức 20%
    nhận biết, 40 % thông hiểu, 40% vận dụng. Tùy theo vùng miền tỉ lệ này có thể thay
    đổi nhưng mức độ thông hiểu và vận dụng phải đạt từ 50% trở lên.
    Nội dung kiểm tra đánh giá: khi tiến hành KTĐG, giáo viên bộ môn phải căn cứ
    vào nội dung, chương trình của môn học, cấp học để đánh giá toàn diện học sinh trên
    cả ba mặt kiến thức, kĩ năng và định hướng thái độ.
    Về kiến thức: về cơ bản, GV đánh giá khả năng Biết (ghi nhớ, thuộc kiến thức),
    Hiểu (bản chất kiến thức) và Vân dụng kiến thức trong quá trình học tập, trong thực
    tiễn cuộc sống phù hợp với lứa tuổi.
    Về kĩ năng: KTĐG kĩ năng của học sinh đối với bộ môn GDCD phải căn cứ
    vào đặc trưng của môn học đó là rèn luyện tư duy biện chứng trong nhận thức và hành
    động, biết phân tích, đánh giá, liên hệ, biết lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử
    phù hợp với các giá trị xã hội. Đồng thời, cần tập trung vào các kĩ năng bộ môn như:
    khả năng trình bày nói và viết,đặc biệt là kĩ năng thực hành, vận dụng các vấn đề đã
    học vào trong thực tiễn cuộc sống phù hợp với lứa tuổi.
    Về thái độ tình cảm: trang bị cho HS về thế giới quan và nhân sinh quan tiến
    bộ, về các giá trị đạo đức, pháp luật. Hình thành và phát triển ở HS những tình cảm,
    niềm tin, biết yêu cái tốt, cái đẹp, không đồng tình với các hành vi, việc làm tiêu cực,
    10
    trân trọng và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc.
    5.Thiết bị và phương tiện dạy học:
    Tận dụng triệt để các thiết bị đã có của từng trường như máy chiếu, băng hình,
    tranh ảnh, sơ đồ…Khuyến khích việc tự làm thiết bị và đồ dùng dạy học của giáo viên
    và học sinh, coi đó cũng là hoạt động hiệu quả để phát huy sự tham gia tích cực của
    học sinh vào quá trình học tập. Khuyến khích áp dụng công nghệ thông tin, trong đó
    máy tính được thực hiện đúng chức năng là công cụ quan trọng giúp giáo viên đổi mới
    phương pháp và nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học. Việc chú ý khai thác các thiết
    bị, phương tiện là yếu tố quan trọng để thực hiện đổi mới phương pháp dạy học làm
    tăng tính hấp dẫn, gây hứng thú học tập cho học sinh.
    Về sách giáo khoa, tài liệu phục vụ giảng dạy: Khi sử dụng SGK, SGV để soạn
    giáo án, giáo viên cần căn cứ chuẩn kiến thức, kỹ năng quy định trong chương trình
    môn học, xác định trọng tâm kiến thức, kỹ năng để thiết kế bài giảng phù hợp với khả
    năng tiếp thu của học sinh; đồng thời sử dụng sách giáo viên môn GDCD, bài tập tình
    huống GDCD, bài tập trắc nghiệm GDCD, tham khảo các tài liệu thuộc chủ đề giáo
    dục ý thức công dân của địa phương…để đạt được mục tiêu, nội dung của môn học.
    Nếu gặp tình huống có các cách hiểu khác nhau về một chủ đề, nội dung nào đó
    giữa SGK và SGV, giáo viên căn cứ vào cuốn Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức,
    kỹ năng để thiết kế bài giảng.
    Trong quá trình thiết kế bài giảng, GV nhất thiết phải lồng gép những nội dung
    tích hợp theo yêu cầu bộ môn và phù hợp với nội dung bài dạy.
    6. Soạn giáo án:
    Mẫu Giáo án môn GDCD tham khảo.
    Trường (dùng lệnh Header and Footer trong word) Họ tên giáo viên
    Tuần: Ngày soạn:
    Tiết: Ngày dạy:
    BÀI:…….
    I. MỤC TIÊU BÀI HỌC: (theo chuẩn KTKN)
    1. Kiến thức:
    2. Kĩ năng:
    3. Thái độ:
    (Có tích hợp nội dung học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
    theo từng bài).
    II. CÁC KĨ NĂNG SỐNG CẦN ĐƯỢC GIÁO DỤC TRONG BÀI:
    (theo tài liệu GD KNS trong môn GDCD) – lựa chọn kĩ năng phù hợp với đối
    tượng học sinh để giáo dục
    III. TIẾN TRÌNH DẠY VÀ HỌC:
    1. Ổn định tổ chức:
    2. Kiểm tra bài cũ: (linh hoạt trong tiết dạy)
    3. Bài mới:
    11
    * Giới thiệu bài: (phải có để tạo tâm thế cho học sinh: có thể băng lời văn,
    chuyện kể, tình huống ..)
    Hoạt động của thầy và trò Nội dung kiến thức cần đạt
    (Không nhất thiết phải ghi tên các hoạt động –
    vì trong một giờ dạy GDCD có nhiều hoạt
    động)
    4. Củng cố: Làm bài tập hoặc hệ thống nội dung bài học
    5. Đánh giá: (GV đưa câu hỏi hoặc tình huống để học sinh giải quyết)
    6. Hoạt động tiếp nối:
    Dặn dò học bài, làm bài tập, đọc và soạn bài mới (áp dụng các kiến thức – kĩ
    năng đã học vào cuộc sống).
    7. Rút kinh nghiệm : (Nếu giáo án soạn bằng máy thì phần này phải viết bằng
    tay)./-
    IV. MÔN HÓA HỌC.
    1. Thực hiện phân phối chương trình:
    Thực hiện đúng, đủ chương trình theo khung phân phối chương trình và hướng
    dẫn điều chỉnh nội dung dạy học Hoá Học được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
    Đảm bảo 37 tuần thực học, trong đó: học kỳ I - 19 tuần và học kỳ II - 18 tuần. Cần lưu
    ý thời điểm kết thúc học kỳ và kết thúc năm học theo kế hoạch năm học của Phòng
    Giáo dục và Đào tạo.
    2. Tổ chức dạy học theo yêu cầu chuẩn kiến thức kỹ năng:
    Tiếp tục thực hiện dạy học, kiểm tra đánh giá trên cơ sở bám chuẩn kiến thức
    kỹ năng, áp dụng hiệu quả tài liệu đã tập huấn về “Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến
    thức kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông” của môn Hoá học THCS, tuân thủ
    đúng quy trình biên soạn đề kiểm tra, xây dựng ngân hàng đề theo nội dung đã được
    tập huấn trong hè 2011
    Việc soạn giảng, kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức kỹ năng là một trong
    những tiêu chuẩn đánh giá giờ dạy, đánh giá hoạt động của tổ chuyên môn. Một giáo
    án đạt yêu cầu cần thể hiện được việc đổi mới phương pháp dạy học và bám chuẩn
    kiến thức kỹ năng. Cụ thể cần làm rõ:
    - Hoạt động của thầy
    - Hoạt động của trò
    - Mục đích cần phải đạt được trong mỗi phần, mỗi bài và mỗi chương.
    Giáo án của các tiết thực hành, luyện tập hay bài mới có thể là 1 cột hoặc 2 cột
    hoặc 3 cột thì phải được thống nhất trong cùng một khối của toàn tổ/nhóm chuyên
    môn, được ghi biên bản cụ thể.
    3. Yêu cầu thực hiện đổi mới phương pháp dạy học:
    12
    Tiếp tục thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng xây dựng tiết học
    thân thiện, dạy học phân hoá, phát huy tính tích cực, hứng thú trong học tập của học
    sinh và vai trò chủ đạo của giáo viên, chú ý phân loại các mức độ trong quá trình giảng
    dạy, bồi dưỡng năng lực độc lập suy nghĩ, vận dụng sáng tạo kiến thức đã học, tránh
    thiên về ghi nhớ máy móc, không nắm vững bản chất. Cần liên hệ thực tế liên quan
    đến các kiến thức bảo vệ môi trường, tiết kiệm năng lượng.
    Đẩy mạnh việc vận dụng dạy học giải quyết vấn đề, tăng cường sử dụng
    phương pháp thực nghiệm - thực hành trong giảng dạy, đảm bảo cân đối giữa việc
    truyền thụ kiến thức và rèn luyện kỹ năng cho học sinh, tăng cường liên hệ thực tế, tổ
    chức ngoại khoá. Thực hiện đầy đủ các thí nghiệm biểu diễn và các tiết thực hành thí
    nghiệm chính khoá theo phân phối chương trình và các nội dung yêu cầu của sách giáo
    khoa.
    Tăng cường tổ chức các hoạt động như tự làm đồ dùng dạy học, làm giải pháp
    hữu ích, sáng kiến kinh nghiệm, viết và tổ chức giảng dạy các chuyên đề của
    nhóm…nhằm động viên giáo viên và học sinh tăng cường sử dụng hợp lý, khai thác tối
    đa các thiết bị dạy học, đồ dùng thí nghiệm, phòng học bộ môn.
    Tiếp tục tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin hổ trợ cho bài giảng Hoá
    Học, sử dụng các phần mềm dạy học, thí nghiệm mô phỏng, tư liệu dạy học điện tử,
    soạn và dạy học bằng giáo án điện tử. Cần lưu ý không lạm dụng công nghệ thông tin
    để biến “đọc chép” thành “chiếu chép” mà phải biết kết hợp giữa phương pháp dạy
    học truyền thống và ứng dụng công nghệ thông tin hổ trợ cho bài giảng.
    Tổ chức tốt và động viên học sinh tích cực tham gia Cuộc thi nghiên cứu khoa học
    kỹ thuật học sinh trung học theo Công văn số 4241/BGDĐT ngày 24/6/2013 của Bộ GDĐT
    và Cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn dành cho
    học sinh trung học theo công văn số 5111/BGDĐT ngày 23/7/2013 của Bộ GDĐT.
    4. Yêu cầu, kiểm tra đánh giá bám chuẩn kiến thức, kỹ năng:
    Tập trung nghiên cứu đổi mới nội dung, hình thức kiểm tra đánh giá môn Hoá
    Học theo hướng coi trọng đánh giá để giúp đỡ học sinh về phương pháp học tập, động
    viên sự cố gắng, hứng thú học tập bộ môn Hoá Học của học sinh
    Có giải pháp để nâng cao chất lượng các bài kiểm tra, căn cứ vào tình hình cụ
    thể của từng trường, đặc điểm của học sinh để kết hợp một cách hợp lý hình thức tự
    luận và trắc nghiệm khách quan; dựa trên chuẩn kiến thức kỹ năng. Nội dung các bài
    kiểm tra cần có cả lý thuyết và thực hành theo một tỉ lệ thích hợp
    Nghiêm túc thực hiện việc xây dựng ma trận đề kiểm tra cho các bài kiểm tra
    thường xuyên, định kỳ, học kỳ cho mỗi chương, mỗi lớp học và được thống nhất thực
    hiện chung cho cả nhóm chuyên môn Hoá của trường.
    Biên soạn đề kiểm tra theo hướng đảm bảo mức độ nhận biết, tăng cường mức
    độ thông hiểu và vận dụng, dành tối thiểu 50% thời gian làm bài cho các nội dung
    thông hiểu, vận dụng.
    Tăng cường hoàn thiện và bổ sung cho thư viện câu hỏi bộ môn Hoá Học dùng
    chung cho tổ bộ môn trong từng năm học.
    Khi chấm bài kiểm tra phải có nhận xét, động viên sự cố gắng tiến bộ của từng
    học sinh, việc cho điểm có thể kết hợp giữa đánh giá kết quả bài làm với theo dõi sự cố
    13
    gắng, tiến bộ của học sinh, hướng dẫn học sinh đánh giá lẫn nhau và tự đánh giá năng
    lực của mình.
    Với điểm các bài thực hành: mỗi học kỳ có một cột điểm kiểm tra thường
    xuyên là điểm của một bài thực hành trong học kỳ đó của từng khối lớp, tuỳ theo điều
    kiện về cơ sở vật chất và thiết bị phòng thí nghiệm mà mỗi trường lựa chọn lấy điểm
    của bài thực hành cho phù hợp. Đánh giá bài thực hành của học sinh bao gồm hai
    phần:
    - Đánh giá kỹ năng thực hành.
    - Đánh giá báo cáo thực hành.
    Điểm của bài thực hành bằng trung bình cộng điểm của hai phần trên.
    5. Đổi mới hình thức và nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn:
    Lập kế hoạch hoạt động của tổ chuyên môn đúng theo mẫu của Phòng Giáo dục
    và Đào tạo ban hành.
    Thông qua sinh hoạt tổ chuyên môn, các tổ cũng cần có kế hoạch biện pháp
    nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của giáo viên trong tổ. Đẩy mạnh
    dự giờ, góp ý, tổ chức các chuyên đề của tổ chuyên môn
    Công tác sinh hoạt tổ chuyên môn thông qua nghiên cứu bài học được tổ chức
    như một chuyên đề thông qua tiết dạy. Tiết dạy này không đánh giá xếp loại, chủ yếu
    trao đổi với nhau về phương pháp truyền đạt của giáo viên, đánh giá hành vi, thái độ
    của học sinh thông qua tiết dạy.
    Đối với những trường chỉ có 01 giáo viên dạy môn Hoá học cần liên hệ với
    trường gần nhất để cùng sinh hoạt dự giờ góp ý với trường bạn, trường có từ 02 đến 03
    giáo viên dạy Hoá học thì tổ chức mỗi học kì 01 tiết (học kì I: 01 tiết, học kì II: 01
    tiết).
    6. Công tác phụ đạo học sinh yếu, kém:
    Qua khảo sát đầu năm và phân loại học sinh, tiếp tục tăng cường công tác giúp
    đỡ học sinh yếu kém nhất là đối với học sinh lớp 9, ngay đầu năm học nhà trường cần
    có kế hoạch giúp đỡ, phụ đạo học sinh yếu, kém, nhất là các trường vùng sâu, vùng xa.
    Trước hết ôn tập cho học sinh các kiến thức cơ bản.
    7. Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi:
    Đẩy mạnh công tác bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp. Tổ chuyên môn cần có kế
    hoạch phát hiện và bồi dưỡng cho học sinh giỏi Hoá Học ngay từ đầu năm học để tham
    gia các kỳ thi học sinh giỏi. Ngoài ra, tổ nhóm chuyên môn cần tạo ra những sân chơi
    bổ ích, lành mạnh cho học sinh dưới hình thức: ngoại khoá, chuyên đề…..
    Tổ chức đúc rút kinh nghiệm về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp trong
    các năm học trước, nhất là trong năm học 2012- 2013. Tiếp tục phát hiện và bồi dưỡng
    học sinh giỏi Hoá Học, kiện toàn đội ngũ giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi về kỹ
    năng, phương pháp, tài liệu….
    Đề thi học sinh giỏi Hoá Học trong năm 2012- 2013 ở các cấp chủ yếu vẫn ra
    theo dạng đề tự luận.
    Nội dung: Chương trình Hoá học lớp 9 (hoc đến đâu thi đến đó.)
    14
    Thi vào lớp 10 chuyên Hoá: trọng tâm là chương trình lớp 9.
    Trong kì thi học sinh giỏi vòng trường, các tổ, nhóm chuyên môn chú ý khâu ra
    đề cần có tính chuyên hoá, bám sát cấu trúc đề thi học sinh giỏi cấp huyện của Phòng
    Giáo dục và Đào tạo nhằm chọn những học sinh thật sự học giỏi bộ môn để có cơ sở
    vững chắc cho các bước tiếp theo.
    8. Cách vào trang web môn Hoá học của Phòng Giáo dục Trung học của Sở
    GD&ĐT Lâm Đồng:
    Trang web: gdtrhlamdong.vn.ae
    Trang web được mở ra/ tài nguyên/khoa học tự nhiên/Hoá học/ Hiển thị 1 tệp từ
    trang Hoá Học/ kích vào chữ Hoá Học (in đậm) => Tài liệu được đưa lên ở đây.
    V. MÔN LỊCH SỬ.
    1. Về nội dung giảng dạy:
    Trong năm học 2013-2014, việc dạy và học lịch sử cần gắn nội dung, ý nghĩa
    của các sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc trong dạy – học phần Lịch sử Việt Nam,
    nhất là thời kỳ từ khi thành lập Đảng CSVN đến nay, xem đây là một trong những
    trọng tâm của chương trình. Phần Lịch sử thế giới tuy không được nhấn mạnh bằng
    lịch sử dân tộc nhưng trong quá trình giảng dạy phải đảm bảo để học sinh (HS) nắm
    vững yêu cầu, kiến thức cơ bản của toàn bộ chương trình.
    Trong quá trình giảng dạy, giáo viên (GV) lưu ý:
    Cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản, hiện đại, có hệ thống về lịch sử thế
    giới và lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến năm 2000 theo yêu cầu của cấp học.
    Về lịch sử thế giới, nắm những sự kiện lịch sử cơ bản, tiêu biểu cho những
    bước phát triển chủ yếu, những chuyển biến quan trọng của lịch sử thế giới từ cổ đại
    đến nay, đặc biệt những sự kiện chính trị- xã hội lớn, những nền văn minh tiêu biểu,
    lịch sử các nước trong khu vực và các sự kiện liên quan đến quá trình lịch sử nước ta.
    Về lịch sử Việt Nam, hiểu những nét chính, vững chắc, có hệ thống về quá trình
    phát triển của lịch sử dân tộc trên cơ sở nắm được những sự kiện nổi bật của từng thời
    kỳ, nội dung chủ yếu của mỗi giai đoạn lịch sử nước ta, mối quan hệ giữa Việt Nam
    với thế giới, đặc biệt từ đầu thế kỷ XX đến nay.
    Điều chỉnh nội dung dạy học theo hướng tinh giản các nội dung bộ Giáo dục đã
    ban hành theo công văn số 5842/BGDĐT-VP ngày 01 tháng 9 năm 2011, dành thời
    gian cho các nội dung khác, tạo thêm điều kiện đổi mới phương pháp dạy học theo yêu
    cầu của chương trình, phù hợp với chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục
    phổ thông.
    Đầu tư thời gian để soạn giảng tốt các tiết sơ kết, tổng kết nhằm củng cố, hệ
    thống hoá kiến thức bộ môn. Đối với các tiết ôn tập, GV cần dựa vào tài liệu giáo khoa
    và tình hình học tập của mỗi lớp để xây dựng nội dung và hướng dẫn học sinh chuẩn bị
    nhằm củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng.
    2. Về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học:
    Quan điểm chủ đạo của chương trình môn Lịch sử ở trường phổ thông nói
    chung là xuất phát từ đặc trưng bộ môn, từ đặc điểm của quá trình nhận thức quá khứ,
    15
    tận dụng mọi phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy
    tính tích cực, độc lập, sáng tạo của HS.
    Trong quá trình giảng dạy cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau đây:
    Thứ nhất, tăng cường tính trực quan, hình ảnh, khả năng gây xúc cảm của các
    thông tin về các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử. Trước hết, GV phải trình bày
    sinh động, giàu hình ảnh. Đó là tường thuật, miêu tả, kể chuyện, nêu đặc điểm của
    nhân vật lịch sử... Bên cạnh đó, cần coi trọng việc sử dụng các phương tiện trực quan:
    tranh ảnh, bản đồ, lược đồ, sa bàn, mô hình vật thật, phim đèn chiếu, phim video...
    Thứ hai, tổ chức cho HS làm việc nhiều hơn với các sử liệu có trong sách giáo
    khoa. Thông qua các hoạt động học tập, chú trọng rèn luyện các phương pháp học tập,
    nghiên cứu lịch sử cho HS.
    Thứ ba, tổ chức các cuộc trao đổi thảo luận dưới nhiều hình thức khác nhau
    (làm việc theo nhóm hoặc đàm thoại chung cả lớp), tạo điều kiện để học sinh tự mình
    nêu lên các vấn đề để học tập, được độc lập giải quyết các vấn đề đó hoặc những vấn
    đề khác do GV đặt ra. Cần khuyến khích HS phát biểu những ý kiến riêng, độc đáo của
    mình, rèn luyện khả năng trình bày ý kiến cho học sinh. Từ đó, HS lĩnh hội được nội
    dung học tập theo tinh thần mới của dạy học hiện đại.
    Thứ tư, đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học lịch sử. Khuyến khích tiến
    hành dạy học lịch sử ở các hình thức tổ chức phong phú, đa dạng: học ở lớp, ở phòng
    bộ môn, ở bảo tàng, tại di tích lịch sử, hiện trường lịch sử; học nghe báo cáo, đối thoại
    trực tiếp với các nhân chứng lịch sử, nhân vật lịch sử.
    Thứ năm, dạy học phải bám sát chuẩn kiến thức và kĩ năng ban hành kèm theo
    Quyết định số 16/2006/QĐ–BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ
    Giáo dục và Đào tạo để cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản, hiện đại, có hệ
    thống về lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến năm 2000 theo yêu cầu
    của từng cấp học.
    Một trong những yêu cầu quan trọng trong việc dạy học hiện nay là GV phải
    bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng được thể hiện trong chương trình giáo dục phổ thông,
    thông qua nội dung SGK để xác định và lựa chọn những nội dung cơ bản nhất, trọng
    tâm của từng bài học giúp các em HS nắm vững những nội dung lịch sử đó với tinh
    thần “ít nhưng mà tinh, còn hơn nhiều mà thô”.Giáo viên cần nghiên cứu kĩ hướng
    dẫn điều chỉnh nội dung dạy học của Bộ GD&ĐT để sử dụng hợp lý SGK khi soạn
    giảng, tránh tình trạng gây quá tải nội dung.
    Trong quá trình dạy học, cùng với việc giúp HS nắm vững chuẩn kiến thức, kĩ
    năng được quy định trong chương trình môn học, GV cần chú ý hướng dẫn HS phân
    tích, giải thích mối quan hệ giữa các sự kiện, so sánh, đối chiếu rút ra bài học lịch sử;
    rèn luyện các kĩ năng và phương pháp tự học.
    Tổ, nhóm chuyên môn tăng cường chỉ đạo hoạt động đổi mới PPDH thông qua
    đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng trao đổi thảo luận về các chủ đề, nội
    dung giảng dạy, rút kinh nghiệm, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc gặp phải khi
    giảng dạy, phải có sự hỗ trợ thường xuyên của đồng nghiệp thông qua dự giờ, thăm
    lớp và cùng rút kinh nghiệm; không để giáo viên phải "đơn độc" trong việc đổi mới
    PPDH. Tổ, nhóm chuyên môn cần xây dựng kế hoạch hoạt động một cách khoa học và
    thực sự hiệu quả cho từng nhiệm vụ cụ thể. Sinh hoạt chuyên đề ở tổ chuyên môn phải
    thực sự có chiều sâu, có sự đầu tư và mang tính thực tiễn.
    16
    3. Về thực hiện phân phối chương trình:
    Năm học 2013-2014, các trường vẫn cơ bản tiếp tục thực hiện phân phối
    chương trình do Phòng GD&ĐT ban hành năm học 2012-2013. Qua thực tế giảng
    dạy ở các trường, Phòng GD&ĐT cho phép các tổ, nhóm chuyên môn các trường có
    thể chủ động điều chỉnh một cách hợp lý thời lượng của từng bài, miễn là không làm
    thay đổi tổng số tiết dạy của chương, phần và mỗi học kỳ, cũng như của toàn năm
    học. Các tổ, nhóm chuyên môn trao đổi, bàn bạc, thảo luận để thống nhất chương
    trình giảng dạy riêng nếu như thấy phù hợp với đối tượng HS. Phân phối chương
    trình nếu có sự thay đổi so với phân phối chương trình của Sở Giáo dục và Đào tạo
    phải có sự phê duyệt của Hiệu trưởng và báo cáo về Phòng GD&ĐT.
    4. Đối với những tiết làm bài tập Lịch sử:
    GV có thể thực hiện theo nội dung sau:
    Tổ chức, hướng dẫn HS khai thác tranh ảnh, lược đồ, bản đồ lịch sử giúp HS biết
    được phương pháp khai thác và nắm được nội dung của tranh ảnh, lược đồ, bản đồ gắn
    liền với nội dung SGK.
    Hướng dẫn HS lập bảng thống kê các sự kiện lịch sử của một bài, chương, giai
    đoạn lịch sử.
    Hướng dẫn HS làm bài tập trắc nghiệm khách quan với các dạng khác nhau.
    Tổ chức, hướng dẫn HS sưu tầm những sự kiện lịch sử địa phương có liên quan
    đến nội dung bài học.
    5. Về giảng dạy lịch sử địa phương:
    Phòng GD&ĐT yêu cầu các trường thực hiện nghiêm túc Công văn số
    252/SGD&ĐT-GDTrH ngày 16/3/2009 của Sở GD&ĐT Lâm Đồng về Hướng dẫn nội
    dung giáo dục Lịch sử địa phương và Địa lý địa phương cấp THCS trong đó cần lưu ý:
    Cần nhận thức rõ về vai trò, ý nghĩa của lịch sử địa phương trong việc giáo
    dưỡng, giáo dục, đặc biệt là giáo dục truyền thống địa phương đối với học sinh. Nội
    dung giáo dục địa phương phải góp phần thực hiện mục tiêu môn học, gắn lý luận với
    thực tiễn. Khi giảng dạy, ngoài việc liên hệ với thực tiễn hoạt động kinh tế - xã hội,
    văn hóa, lịch sử địa phương trong các bài dạy còn phải thực hiện nội dung giáo dục địa
    phương thông qua việc giảng dạy các tiết học đã qui định trong phân phối chương
    trình dành cho giáo dục địa phương.
    Để thực hiện nội dung giáo dục địa phương, các đơn vị trường học phải tổ chức
    dạy học, kiểm tra, đánh giá, sử dụng kết quả đánh giá để xếp loại học sinh cuối học kỳ
    và cuối năm học. Trong quá trình giảng dạy, cần lưu ý một số yêu cầu đó là: tính cơ
    bản, tiêu biểu của sự kiện, đảm bảo được tính toàn diện, hệ thống của sự kiện và vừa
    sức với học sinh.
    Về tài liệu, các trường dựa vào cuốn “Địa chí Lâm Đồng”, nhà xuất bản Văn
    hoá dân tộc, Hà Nội năm 2001 (nếu các trường chưa có cuốn sách này, có thể xem trên
    mạng Internet, địa chỉ: http://www.google.com.vn/ Địa chí Lâm Đồng) để làm tài liệu
    giảng dạy.
    6. Về thiết kế giáo án:
    Giáo án là bản kế hoạch, không chỉ nội dung và phương pháp giảng dạy, mà cả
    cách tổ chức và hoạt động của GV và HS.
    17
    Để soạn giáo án tốt, GV cần thực hiện các công việc sau:
    - Xác định loại bài và vị trí của bài trong khóa trình để có nội dung và phương
    pháp dạy học phù hợp.
    - Xác định mục tiêu của bài học gồm các yếu tố: giáo dưỡng (kiến thức), giáo
    dục (tư tưởng) và phát triển (kỹ năng - các năng lực nhận thức, thực hành, trong đó
    quan trọng là tư duy).
    - Nội dung, phương pháp giảng dạy và cách tổ chức công việc của GV và HS
    trong giờ học là khâu trung tâm của giáo án. Cần ghi rõ các công việc của thầy và hoạt
    động nhận thức của trò, mối quan hệ giữa hoạt động của thầy và trò.
    Việc thiết kế giáo án phải khoa học, sắp xếp hợp lý các hoạt động dạy - học của
    GV và HS ở trên lớp, với hệ thống câu hỏi hợp lý, tập trung vào trọng tâm của bài học,
    tránh nặng nề hoặc dàn trải. Chú ý bồi dưỡng năng lực độc lập suy nghĩ của HS, vận
    dụng sáng tạo kiến thức đã học, tránh thiên về ghi nhớ máy móc, không nắm vững bản
    chất vấn đề.
    Về cấu trúc của một giáo án môn Lịch sử, thực hiện theo yêu cầu chung và định
    hướng trong các tài liệu bồi dưỡng giáo viên, các đợt tập huấn thay sách giáo khoa
    THCS. Thực hiện cấu trúc giáo án mềm dẻo, linh hoạt, tránh yêu cầu GV phải cấu trúc
    và thực hiện giáo án máy móc các công việc của giờ học.
    7. Về khai thác và sử dụng thiết bị dạy học:
    Việc sử dụng thiết bị dạy học là yêu cầu bắt buộc trong công tác dạy h


    Nhắn tin cho tác giả
    Chu Đức Tân @ 12:24 30/08/2013
    Số lượt xem: 1919
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    hi Tan, chuc mung website moi, TVM chuc chu nha manh khoe

    Avatar

    TRang web nay cua nha truong ah?

    Avatar

    hay trang rieng?

     
    Gửi ý kiến